Lượng phù sa tại sông Hồng đã giảm khoảng 90,4% trong 64 năm qua

  • Cập nhật: Thứ ba, 27/9/2022 | 9:56:30 Sáng

Các nhà nghiên cứu ở Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển cùng các cộng sự vừa công bố nghiên cứu cho thấy lượng phù sa lơ lửng tại sông Hồng đã giảm khoảng 90,4% trong 64 năm qua.

Nghiên cứu có tiêu đề "Changes in the sediment load in the Red River system (Vietnam) from 1958- 2021 because of dam-reservoirs” (Tạm dich : "Những thay đổi về lượng phù sa trong hệ thống sông Hồng (Việt Nam) từ năm 1958- 2021 do các đập-hồ chứa” được chia sẻ trên Research Square.
Lượng phù sa tại sông Hồng đã giảm khoảng 90,4% trong 64 năm qua
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng hạ lưu của các hệ thống đập-hồ chứa thường được đặc trưng bởi sự đói phù sa, hoặc nước ''đói'', khiến lòng và bờ dễ bị xói mòn để bù đắp cho lượng phù sa ở thượng nguồn. Do đó, điều quan trọng là phải điều tra xem lượng phù sa và lưu lượng nước của các con sông có hệ thống đập-hồ chứa bị ảnh hưởng như thế nào bởi việc xây dựng và vận hành các công trình này.
Nghiên cứu tập trung phân tích các tác động của các đập thủy điện lớn có dung tích > 0,1km2 tới chế độ phù sa của sông Hồng. Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu nồng độ phù sa lơ lửng tại trạm đo thủy văn Sơn Tây - cửa ra của sông Hồng trong giai đoạn từ 1958 đến năm 2021. 
Trong những thập kỷ gần đây, để đáp ứng nhu cầu nước của dân số đang tăng nhanh và các hoạt động nông nghiệp thâm canh, một số lượng lớn các đập-hồ chứa đã được xây dựng dọc theo hệ thống sông Hồng từ những năm 1970. Trong nghiên cứu nói trên, các nhà khoa học đã giới hạn điều tra các hệ thống đập-hồ chứa có dung tích lớn (> 0,1 km3) dọc theo một phần của hệ thống sông Hồng ở Việt Nam. Đó là Thác Bà (1971), Hòa Bình (1988), Tuyên Quang (2008), Sơn La (2010), Bản Chát (2013), Huội Quảng (2015) ), và Lai Châu (2016) tất cả đều đã chặn được lượng trầm tích khác nhau. 
Kết quả cho thấy lượng phù sa lơ lửng hàng năm do hệ thống sông Hồng vận chuyển đã giảm đáng kể do việc xây dựng và vận hành bảy hồ chứa đập lớn kể từ những năm 1970. Kết quả chỉ ra rằng lượng phù sa hàng năm đã giảm khoảng 90,4% (từ 115 × 106 xuống 11 × 106 t / năm) trong thời gian quan trắc 64 năm, với sự sụt giảm chủ yếu là do một loạt đập-hồ chứa hoạt động ở thượng nguồn.
Cũng như các công trình xây dựng đập-hồ chứa ở thượng nguồn, các hoạt động của con người, thay đổi sử dụng đất (như tăng diện tích đất trồng lúa và đất nông nghiệp), phá rừng, gia tăng dân số và biến đổi khí hậu cũng đã tác động đến lượng nước thải, nồng độ phù sa lơ lửng và lượng phù sa trên lưu vực sông Hồng trong những năm gần đây. Những yếu tố này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến cả lưu lượng nước và lượng phù sa trong hệ thống sông Hồng trong tương lai. 
Từ kết quả trên, các nhà nghiên cứu khuyến nghị, cần phải kết hợp tất cả các yếu tố này vào quy hoạch và quản lý tổng hợp lưu vực để đảm bảo sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Hồng.


Hải Thanh (T/h)



Nguồn Chuyên trang Quản lý Môi trường/Tham khảo: Research Square

  •  
Các tin khác

“Tấm lưới xanh” được tổ chức với thông điệp: mỗi tấm lưới ra khơi mang đầy niềm tin và trách nhiệm, gom rác thải trong hành trình hướng đến bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên biển đảo quê hương.

Đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị COP 27 tại Ai Cập

Theo một ấn phẩm công ty Kiểm toán hàng đầu thế giới PwC, Việt Nam đang là một trong những nước dẫn đầu về giảm phát thải các-bon.

Rùng mình cống thoát nước tại Khu công nghiệp Lộc An-Bình Sơn xả ra loại nước có màu xanh dương như màu thuốc nhuộm.

Chúng ta cần suy nghĩ lại về cách thích ứng với khủng hoảng khí hậu

Biến đổi khí hậu đang khiến các hiện tượng thời tiết trở nên cực đoan và trầm trọng hơn. Ảnh hưởng của nó sẽ khiến chúng ta đau đầu tìm ra giải pháp mới để ứng phó hơn là khắc phục hậu quả sau thiên tai.